NGHIÊN CỨU CÁC RÀO CẢN TRONG TRIỂN KHAI XE BUÝT ĐIỆN Ở HÀ NỘI: PHƯƠNG PHÁP CASE STUDY
Nguyễn Phương Hà Linh[1], Vũ Thị Thảo Linh, Nguyễn Thị Linh Chi, Nguyễn Ngọc Thuỷ Nguyên, Nguyễn Ngọc Nhi, Bùi Thị Thuý Ngân, Phùng Mạnh Chiến Thắng
Sinh viên K62 ĐHNNQT Logistics và Quản lí chuỗi cung ứng – Viện Kinh tế & Kinh doanh quốc tế
Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, Việt Nam
Trần Lê Anh Dũng, Nguyễn Phương Linh
Sinh viên K62 CLC Kinh tế đối ngoại – Viện Kinh tế & Kinh doanh quốc tế
Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, Việt Nam
Nguyễn Minh Phúc
Giảng viên Viện Kinh tế & Kinh doanh quốc tế
Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, Việt Nam
Tóm tắt
Nghiên cứu này phân tích quá trình chuyển đổi sang giao thông công cộng chạy điện qua hai trường hợp tiêu biểu – Thâm Quyến (Trung Quốc) và Santiago (Chile) – nhằm rút ra khung chính sách và bài học cho Hà Nội, Việt Nam. Bằng phương pháp định tính so sánh, nghiên cứu xem xét cách các thành phố giải quyết những rào cản như chi phí đầu tư cao, hạn chế nguồn cung xe, thách thức vận hành và thiếu hạ tầng sạc. Thâm Quyến đại diện cho mô hình nhà nước dẫn dắt, dựa vào trợ cấp mạnh và quy hoạch tập trung, trong khi Santiago áp dụng mô hình hợp tác công – tư (PPP), huy động vốn quốc tế và cơ chế thanh toán linh hoạt để giảm rủi ro mà không cần trợ cấp lớn. Dù khác biệt, cả hai đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tách biệt sở hữu và vận hành, hợp tác với ngành điện, cùng tiêu chuẩn hóa kỹ thuật để mở rộng quy mô. Từ đó, nghiên cứu khuyến nghị Hà Nội kết hợp sản xuất nội địa với hợp tác quốc tế, áp dụng mô hình PPP, và phát triển hệ thống sạc gắn với nâng cấp lưới điện nhằm xây dựng hệ sinh thái xe buýt điện bền vững.
Từ khóa: xe buýt điện, Thâm Quyến, Santiago, Hà Nội, điện hóa giao thông công cộng
INVESTIGATING BARRIERS TO ELECTRIC BUS ADOPTION IN HANOI: CASE STUDY APPROACH
Abstract
This study analyzes the electrification of public transport through two leading cases – Shenzhen (China) and Santiago (Chile) – to identify effective policy frameworks and lessons for Hanoi, Vietnam. Using a comparative qualitative approach, the research examines how each city addressed key barriers such as high upfront costs, limited vehicle supply, operational feasibility, and charging infrastructure. Shenzhen illustrates a state-led model characterized by strong subsidies, centralized planning, and domestic manufacturing capacity, while Santiago demonstrates a public-private partnership model leveraging international finance, long-term contracts, and gross-cost payment schemes to minimize risks without heavy subsidies. Despite their differences, both cases emphasize the importance of asset-service unbundling, collaboration with electricity providers, and standardized technical frameworks for scalability. Drawing from these insights, the study recommends that Hanoi combine domestic production capacity with international partnerships, apply PPP-based financial models, and integrate depot-based charging with grid upgrades to build a reliable and financially sustainable e-bus ecosystem.
Keywords: electric buses, Shenzhen, Santiago, Hanoi, public transport electrification
[1] Tác giả liên hệ: k62.2312530026@ftu.edu.vn